Để câu chuyện mãi… thần kỳ

Người đăng: Cong Phien | 18:03 | 0 Bình luận »

Thứ tư, 08/04/2009, 01:34 (GMT+7)
>Có thể nói, con cá tra, ba sa Việt Nam hiện diện gần 140 nước là một câu chuyện thần kỳ. Vốn là loài cá bản địa châu thổ sông Mekong, cá tra, ba sa là thực phẩm của người dân nghèo, nhưng khi được nuôi hàng hóa và xuất khẩu đã trở thành món ăn ưa thích của người dân các nước. Lo ngại trước sự lấn lướt thị phần cá da trơn, Hiệp hội Cá nheo của Mỹ đã kiện doanh nghiệp (DN) VN bán phá giá. Năm 2003, Bộ Thương mại Mỹ đánh thuế chống bán phá giá từ 36% – 64%. Nhiều người nghĩ rằng, mặt hàng này sẽ bị “chết yểu” vì lúc đó thị trường Mỹ chiếm tới hơn 80% sản lượng xuất khẩu cá tra, ba sa.

Thế nhưng, việc bị “xử thua” này lại là động lực để mỗi DN tích cực tìm kiếm thị trường mới, nên sản lượng nuôi tăng dần qua từng năm. Từ 1997 đến 2008, diện tích nuôi loài cá này tăng 5 lần (từ 1.200 ha lên 6.000 ha), sản lượng nuôi tăng từ 22.500 tấn lên gần 1,5 triệu tấn, giá trị sản phẩm chế biến xuất khẩu tăng hơn 75 lần (từ dưới 20 triệu USD lên gần 1,5 tỷ USD, chỉ đứng sau con tôm về kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2008 là 4,5 tỷ USD, 3 tháng đầu năm 2009 đã vượt qua con tôm về kim ngạch xuất khẩu).

Cơ cấu thị trường thay đổi căn bản: Mỹ còn dưới 10%, EU là thị trường lớn nhất với trên 46%, Nga trên 11%, các nước ASEAN hơn 8%, Trung Quốc (kể cả Hồng Công) khoảng 5%, Australia hơn 4%, còn lại là các thị trường khác. Nghề nuôi và chế biến, xuất khẩu cá tra, ba sa của VN đứng thứ 3 thế giới, sau cá hồi (Na Uy), cá rô phi (lãnh thổ Đài Loan - Trung Quốc).

Tuy nhiên, chính vì sự phát triển vượt bậc này mà Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) lo ngại, khi ngày càng có nhiều thị trường tiêu thụ cá tra, ba sa VN đã và đang sử dụng các phương tiện truyền thông nhằm “hạ bệ” sản phẩm cá tra, ba sa để bảo vệ sản phẩm cá nước sở tại. Hậu quả, 3 tháng đầu năm 2009, sản lượng, kim ngạch giảm 8% so với 2008 (còn 208,4 triệu USD), số nước nhập khẩu cá tra cũng bị giảm. Bên cạnh ảnh hưởng của tình hình suy thoái kinh tế toàn cầu, đó còn là hậu quả của khoảng 10% lượng cá chế biến xuất khẩu kém chất lượng đã bị các nước lợi dụng để “xé to” sự việc.
Theo ông Dương Ngọc Minh, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Hùng Vương (Tiền Giang), chỉ cần 1 nước “la lên” lập tức ảnh hưởng đến những nước nhập khẩu khác. Vì vậy quản lý chất lượng là vấn đề quyết định sự sống còn của xuất khẩu thủy sản.

Nhiều người e ngại, nếu không thật sự quyết liệt trong việc quản lý, câu chuyện thần kỳ con cá tra, ba sa VN có thể bị chấm dứt chỉ vì cách làm ăn gian dối của một số DN. Tiến sĩ Nguyễn Hữu Dũng, Phó Chủ tịch VASEP đưa ra lời cảnh báo rằng, Tạp chí Intrafish, tờ báo chuyên ngành nuôi trồng uy tín nhất nhì thế giới đã nêu câu hỏi, liệu con Pangasius (tên gọi của cá tra, ba sa xuất qua EU) có tàn phá uy tín ngành nuôi trồng thủy sản, dẫn đến khả năng chấm dứt nghề nuôi trồng cá nước ngọt của thế giới. Thật bất ngờ, 36% số câu trả lời đã đồng ý với cách đặt vấn đề này.
Quá bức xúc, ông Dũng cho rằng, một số DN đã “bôi bẩn” uy tín cả ngành khi “tàn phá” chất lượng cá tra, ba sa xuất khẩu, mùi vị cá không còn mà chỉ có… nước do tỷ lệ mạ băng lên 20% - 30% (nhiều nhất so với các loại khác) thay vì 10%. Thách thức từ những rào cản kỹ thuật các nước EU hay việc áp dụng thuế chống bán phá giá của Mỹ đã không ngăn nổi những nỗ lực chung để vượt qua. Nhưng giờ đây, vì lợi ích cục bộ một số DN có thể làm chấm dứt câu chuyện thần kỳ mà trước đó chính những người nuôi trồng và DN chân chính đã dày công tạo ra.

Đã đến lúc gióng hồi chuông cảnh tỉnh, đồng thời có biện pháp tích cực để loại trừ cách làm ăn gian dối của những “con sâu” làm rầu nồi canh, nếu muốn viết tiếp những trang mới của câu chuyện thần kỳ.
CÔNG PHIÊN

Để câu chuyện mãi… thần kỳ

Người đăng: Cong Phien | 18:03 | 0 Bình luận »

Thứ tư, 08/04/2009, 01:34 (GMT+7)

>Có thể nói, con cá tra, ba sa Việt Nam hiện diện gần 140 nước là một câu chuyện thần kỳ. Vốn là loài cá bản địa châu thổ sông Mekong, cá tra, ba sa là thực phẩm của người dân nghèo, nhưng khi được nuôi hàng hóa và xuất khẩu đã trở thành món ăn ưa thích của người dân các nước. Lo ngại trước sự lấn lướt thị phần cá da trơn, Hiệp hội Cá nheo của Mỹ đã kiện doanh nghiệp (DN) VN bán phá giá. Năm 2003, Bộ Thương mại Mỹ đánh thuế chống bán phá giá từ 36% – 64%. Nhiều người nghĩ rằng, mặt hàng này sẽ bị “chết yểu” vì lúc đó thị trường Mỹ chiếm tới hơn 80% sản lượng xuất khẩu cá tra, ba sa.

Thế nhưng, việc bị “xử thua” này lại là động lực để mỗi DN tích cực tìm kiếm thị trường mới, nên sản lượng nuôi tăng dần qua từng năm. Từ 1997 đến 2008, diện tích nuôi loài cá này tăng 5 lần (từ 1.200 ha lên 6.000 ha), sản lượng nuôi tăng từ 22.500 tấn lên gần 1,5 triệu tấn, giá trị sản phẩm chế biến xuất khẩu tăng hơn 75 lần (từ dưới 20 triệu USD lên gần 1,5 tỷ USD, chỉ đứng sau con tôm về kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2008 là 4,5 tỷ USD, 3 tháng đầu năm 2009 đã vượt qua con tôm về kim ngạch xuất khẩu).

Cơ cấu thị trường thay đổi căn bản: Mỹ còn dưới 10%, EU là thị trường lớn nhất với trên 46%, Nga trên 11%, các nước ASEAN hơn 8%, Trung Quốc (kể cả Hồng Công) khoảng 5%, Australia hơn 4%, còn lại là các thị trường khác. Nghề nuôi và chế biến, xuất khẩu cá tra, ba sa của VN đứng thứ 3 thế giới, sau cá hồi (Na Uy), cá rô phi (lãnh thổ Đài Loan - Trung Quốc).

Tuy nhiên, chính vì sự phát triển vượt bậc này mà Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) lo ngại, khi ngày càng có nhiều thị trường tiêu thụ cá tra, ba sa VN đã và đang sử dụng các phương tiện truyền thông nhằm “hạ bệ” sản phẩm cá tra, ba sa để bảo vệ sản phẩm cá nước sở tại. Hậu quả, 3 tháng đầu năm 2009, sản lượng, kim ngạch giảm 8% so với 2008 (còn 208,4 triệu USD), số nước nhập khẩu cá tra cũng bị giảm. Bên cạnh ảnh hưởng của tình hình suy thoái kinh tế toàn cầu, đó còn là hậu quả của khoảng 10% lượng cá chế biến xuất khẩu kém chất lượng đã bị các nước lợi dụng để “xé to” sự việc.
Theo ông Dương Ngọc Minh, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Hùng Vương (Tiền Giang), chỉ cần 1 nước “la lên” lập tức ảnh hưởng đến những nước nhập khẩu khác. Vì vậy quản lý chất lượng là vấn đề quyết định sự sống còn của xuất khẩu thủy sản.

Nhiều người e ngại, nếu không thật sự quyết liệt trong việc quản lý, câu chuyện thần kỳ con cá tra, ba sa VN có thể bị chấm dứt chỉ vì cách làm ăn gian dối của một số DN. Tiến sĩ Nguyễn Hữu Dũng, Phó Chủ tịch VASEP đưa ra lời cảnh báo rằng, Tạp chí Intrafish, tờ báo chuyên ngành nuôi trồng uy tín nhất nhì thế giới đã nêu câu hỏi, liệu con Pangasius (tên gọi của cá tra, ba sa xuất qua EU) có tàn phá uy tín ngành nuôi trồng thủy sản, dẫn đến khả năng chấm dứt nghề nuôi trồng cá nước ngọt của thế giới. Thật bất ngờ, 36% số câu trả lời đã đồng ý với cách đặt vấn đề này.
Quá bức xúc, ông Dũng cho rằng, một số DN đã “bôi bẩn” uy tín cả ngành khi “tàn phá” chất lượng cá tra, ba sa xuất khẩu, mùi vị cá không còn mà chỉ có… nước do tỷ lệ mạ băng lên 20% - 30% (nhiều nhất so với các loại khác) thay vì 10%. Thách thức từ những rào cản kỹ thuật các nước EU hay việc áp dụng thuế chống bán phá giá của Mỹ đã không ngăn nổi những nỗ lực chung để vượt qua. Nhưng giờ đây, vì lợi ích cục bộ một số DN có thể làm chấm dứt câu chuyện thần kỳ mà trước đó chính những người nuôi trồng và DN chân chính đã dày công tạo ra.

Đã đến lúc gióng hồi chuông cảnh tỉnh, đồng thời có biện pháp tích cực để loại trừ cách làm ăn gian dối của những “con sâu” làm rầu nồi canh, nếu muốn viết tiếp những trang mới của câu chuyện thần kỳ.
CÔNG PHIÊN


Xuất khẩu thủy sản trong quý 1 của nước ta đã giảm 8% cả về số lượng lẫn giá trị. Hơn nữa, xu hướng “gây khó dễ” từ một số thị trường lớn đã và đang tạo áp lực cho các doanh nghiệp trong nước.
Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết, trong quý I, thị trường nhập khẩu hàng thủy sản của Việt Nam đã co hẹp dần, còn 122 thị trường, giảm 37 thị trường so với cùng kỳ năm 2008. Điều này khiến sản lượng, giá trị của hầu hết các sản phẩm thủy sản xuất khẩu đều giảm mạnh.
Đã khó lại thêm “bó”
Sự sụt giảm tập trung chủ yếu ở các thị trường lớn như châu Âu, Nhật Bản, Mỹ, phần vì nhu cầu tiêu thụ giảm, phần khác do các nước này thắt chặt chính sách bảo hộ hàng nông, lâm, thủy hải sản trong nước, khiến các doanh nghiệp xuất khẩu nước ta ngày một khó khăn hơn.Theo dự báo của VASEP, ngày càng có nhiều thị trường tiêu thụ cá tra, cá basa của Việt Nam như Pháp, Tây Ban Nha, Italy, Ai Cập, Mỹ… đã và đang sử dụng các phương tiện truyền thông vào mục đích “bôi bẩn” nhằm hạ bệ sản phẩm nước ta. Những sự cố tại thị trường Ai Cập, Italy hay thị trường Nga (mới nối lại)…. thời gian vừa qua là minh chứng rõ nhất. “Sắp tới, các doanh nghiệp phải đối mặt với chính sách mới của ngành nông nghiệp Mỹ và cuộc thanh tra chất lượng thủy sản từ phía EU”, ông Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam khuyến cáo, các doanh nghiệp sẽ phải quen dần với những chính sách bảo hộ kiểu “sáng đúng, chiều sai, sáng mai lại đúng” từ các thị trường nhập khẩu, đặc biệt là Mỹ.Bên cạnh đó, sức cạnh tranh còn yếu cũng là nguyên nhân khiến khả năng tìm kiếm, chiếm lĩnh thị trường của các mặt hàng thủy sản Việt Nam thêm chật vật. Siết lại tiêu chuẩn xuất khẩuChưa hết nỗi lo đầu ra, các doanh nghiệp trong nước còn phải đối diện với hàng loạt những khó khăn từ những yếu tố đầu vào. Ba vướng mắc lớn nhất hiện nay là quy định hạn chế sản xuất giờ cao điểm, giá thức ăn cho thủy sản tăng cao và tỷ giá, khiến tính cạnh tranh của hàng thủy sản Việt Nam thêm yếu. Ông Chu Văn An, Phó tổng giám đốc Công ty thủy sản Minh Phú lấy ví dụ: Giá tôm xuất khẩu của Việt Nam luôn thấp hơn giá tôm cùng loại của Thái Lan từ 0,1đến 0,2USD một kg, trong khi đó chi phí đầu vào của chúng ta luôn cao hơn các nước từ 15.000 đến 30.000 đồng một kg. Nghịch lý này giải thích vì sao, cả người nuôi lẫn doanh nghiệp trong nước luôn than trời vì xuất khẩu nhiều mà lãi không được bao nhiêu. Theo ông An, nguyên nhân chủ yếu là do chi phí thức ăn chăn nuôi, yếu tố chiếm 60 đến 70% chi phí thành phẩm. Hầu hết các nhà máy thức ăn cho cá, tôm hiện nay đều có yếu tố nước ngoài, và việc bị làm giá là chuyện khó tránh khỏi. “Đơn cử năm 2008, thức ăn cho tôm tăng từ 14.500 đồng một kg lên 22.000 đồng một kg, sau đó giá nguyên liệu sản xuất thức ăn đồng loạt giảm từ 30 đến 50% nhưng giá thức ăn thành phẩm chỉ giảm có 500đồng một kg. Giờ giá nguyên liệu nhập nhích lên, các công ty lại rục rịch tăng giá”, ông An lo lắng.Thứ trưởng Bộ NN-PTNN, ông Lương Lê Phương lưu ý thêm, sở dĩ các sản phẩm xuất khẩu dễ bị phía nước ngoài “bắt thóp” bằng những lý do như: nhiễm khuẩn, dư lượng kháng sinh vượt mức cho phép… một phần do nhiều cơ sở, xí nghiệp nhỏ lẻ không đủ điều kiện sản xuất, chế biến vẫn được phép xuất khẩu. Hơn nữa thói quen “đổ bộ ào ạt” vào cùng một thị trường dễ gây những “cú sốc” về cung cầu cho các nhà nhập khẩu, tạo ác cảm cho các doanh nghiệp bản địa. “Vì vậy cần phải tính đến tiêu chuẩn cho các doanh nghiệp xuất khẩu, đồng thời thành lập những ban điều phối ở từng thị trường để cân bằng cung cầu”, ông Phương nói.
Đăng Thư



Lâu nay, trái điều sau khi được lấy hạt thường bị vứt bỏ lãng phí, gây hôi thối, làm ảnh hưởng tới môi trường. Nhưng gần đây, nhiều nông dân ở huyện Tân Phú đã biết chế biến cồn từ trái điều, tăng thêm thu nhập đáng kể.

Tân Phú có trên 5 ngàn hécta điều, chiếm khoảng 40% diện tích cây công nghiệp trong huyện, tập trung nhiều nhất ở các xã có vùng đồi dốc như: Phú Sơn, Phú An, Núi Tượng và Phú Trung. Hàng năm, nông dân chỉ trông chờ vào giá trị của những hạt điều, còn trái điều hầu như không ai sử dụng, bị vứt bỏ lãng phí tại vườn. Có những năm, giá hạt điều xuống thấp nên người trồng điều thu nhập không đáng kể.


Mới đây,Trung tâm khuyến công của tỉnh đã về chuyển giao kỹ thuật chế biến cồn khô từ trái điều cho bà con nông dân Tân Phú. Quy trình sản suất ra cồn điều khô này đơn giản và dễ làm. Trái điều sau khi tách lấy hạt được đem rửa sạch để ráo nước và được vắt hoặc ép để lấy nước điều. Sau đó cho dung dịch gelantine vào nước ép điều (với liều lượng 2 gam/lít) rồi đun sôi và lọc để lấy dịch điều. Cho thêm men vào dịch điều (với tỉ lệ 5 gam men/1lít dịch điều) để 5 ngày sau thì chưng cất 2 lần sẽ thu được cồn 80 - 85 độ. Cuối cùng là bỏ thêm chất phụ gia vào thành cồn khô. Tính ra chi phí để sản xuất được 11kg cồn khô từ 150 kg trái điều chỉ mất khoảng 25 ngàn đồng, so với giá thị trường hiện nay trên 20 ngàn đồng/kg cồn khô thì nông dân thu lãi khá cao. Chính vì vậy, sản xuất cồn khô từ trái điều đã mở ra cho người nông dân trồng điều ở Tân Phú một cơ hội mới để tăng thêm thu nhập.

Ông Nguyễn Hữu Mạnh , ấp Phú Lâm 1 xã Phú Sơn, cho biết mô hình sản suất ra cồn điều khô đã giúp nông dân chúng tôi có thêm nguồi thu mới từ trái điều. Đặc biệt là mỗi hộ dân đều có thể tự chế biến được cồn khô ngay tại nhà mình. Ông Lê Quang Hải, cán bộ hội nông dân huyện, còn cho biết trái điều được chưng cất thành cồn khô không chỉ có lợi về kinh tế mà còn giải quyết được ô nhiễm môi trường. Trước đây, sau khi thu hoạch hạt thì bà con vứt bỏ trái điều quanh vườn, tạo ra mùi hôi thối và thu hút nhiều ruồi nhặng làm ô nhiễm môi trường.

Đồng Nai có trên 40 ngàn hécta điều, chiếm trên 20% diện tích điều vùng Đông Nam bộ. Do vậy, việc chế biến ra cồn khô từ trái điều sẽ tăng thêm giá trị cho người trồng điều vài chụ tỷ đồng. Được biết, nhiều nước trồng điều trên thế giới không chỉ chế biến ra cồn khô, mà còn sản xuất ra rượu trắng trái điều, rượu vang, xô đa, trà gừng điều, hương điều... Đây là một hướng mới để phát triển cây điều ở Việt Nam và tăng thu nhập cho người nông dân trồng điều.

Trung bình 1 hécta điều có 5 tấn trái. Nếu chưng cất được toàn bộ trái điều này sẽ có được trên 440kg cồn khô. Với giá cồn trên thị trường hiện nay là trên 20 ngàn đồng/kg, thì người nông dân trồng điều có thêm thu nhập khoảng 8 triệu đồng/hécta. Theo ông Lâm Quang Liêm, Giám đốc Trung tâm khuyến công Đồng Nai, sau khi trợ giúp các hộ dân thành thạo việc chế biến ra cồn điều khô trung tâm sẽ kết hợp với phòng công thương huyện liên hệ tiêu thụ sản phẩm cho bà con nông dân. Cồn khô điều hiện nay là mặt hàng rất ưa chuộng ở các quán ăn, nhà hàng, khách sạn trong cả nước. Vì nó tiện ích lại đảm bảo an toàn cho người sử dụng, hơn hẳn so với bếp gas hoặc bếp điện.
Lê Ngân

Giá hồ tiêu – tăng hay giảm?

Người đăng: Cong Phien | 18:13 | 0 Bình luận »

Thứ sáu, 03/04/2009, 23:42 (GMT+7)

Theo Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA), 3 tháng đầu năm 2009, các doanh nghiệp đã xuất khẩu được khoảng 25.000 tấn hồ tiêu các loại, đạt kim ngạch gần 60.000 triệu USD, tăng 65% về lượng so với cùng kỳ 2008, nhưng giá giảm khá mạnh, bình quân giá tiêu đen giảm 31%, còn 2.282 USD/tấn và tiêu trắng giảm 29%, còn 3.679 USD/tấn. Giá hồ tiêu trong nước dao động trên dưới 30.000 đồng/kg, trong khi thời cao điểm là 60.000 đồng/kg.

Năm 2009 được đánh giá sẽ là năm không thuận lợi, nếu không nói là khó khăn của ngành hồ tiêu thế giới, trong đó có Việt Nam, do sản lượng hồ tiêu các nước đều tăng, khoảng 305.000 tấn (tăng 4,8% so với năm 2008), tương đương khoảng 14.000 tấn, trong đó, hồ tiêu Việt Nam đã thu hoạch xong là 95.000 tấn (tăng khoảng 4.000 tấn so với năm 2008).

Bên cạnh đó, các nước nhập khẩu đều giảm sản lượng tồn kho do tài chính khó khăn. Nhưng theo VPA, hồ tiêu Việt Nam vẫn có lợi thế cạnh tranh so với các nước vì năng suất bình quân hồ tiêu VN so với các nước rất cao, khoảng 2 tấn/ha so với các nước chỉ trên dưới 1 tấn/ha.

Hồ tiêu Chư Sê (Gia Lai), sau khi là địa phương đầu tiên xây dựng được thương hiệu đã ngày càng nổi tiếng trên thị trường thế giới với giá bán luôn cao hơn những địa phương khác 5%-10%. Năng suất hồ tiêu bình quân tại đây rất cao, khoảng 5 tấn/ha/vụ, có nhiều vườn lên đến 5-7 tấn/ha/vụ, cá biệt có vườn đạt 10 tấn/ha/vụ. Với mức giá như trên những hộ này lãi ròng khoảng 50% (năm 2008 lãi ròng 60%-70%).

Vì vậy, VPA đề nghị những vùng hồ tiêu nổi tiếng như Lộc Ninh (Bình Phước), Châu Đức (Bà Rịa – Vũng Tàu), Ehleo (Đắc Lắc), nhất là hồ tiêu Phú Quốc (Kiên Giang) sớm xây dựng thương hiệu để nâng cao chất lượng nông sản và thu nhập nông dân, tạo thế đứng bền vững cho hồ tiêu Việt Nam trên thị trường thế giới.

Tuy nhiên, ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch VPA, cho rằng, để hạn chế rủi ro cho nhà vườn và doanh nghiệp, cần nắm sát thông tin, cung cấp kịp thời diễn biến thị trường, tránh bán ra ồ ạt, dẫn đến việc hạ giá bất lợi cho nhà vườn và xuất khẩu. Nếu làm được điều này, với lượng hồ tiêu VN chiếm 40%-50% lượng hàng xuất khẩu của thế giới thì năm 2009 có thể giữ được ở mức giá bình quân 2.000 USD/tấn.

Không phải ngẫu nhiên, tại buổi họp thường niên, những nhà xuất khẩu hàng đầu hồ tiêu Việt Nam đều tự tin là giá sẽ không giảm, sau 4-5 tháng êm hơi, nhà nhập khẩu bắt đầu tìm mua hàng trở lại. Động thái này sẽ thúc đẩy giá lên. Hiện giá hồ tiêu trong nước có dấu hiệu phục hồi, từ 29.500 - 30.000 đồng/kg nhích lên 32.000 đồng/kg.

ĐĂNG LÃM