Xuất khẩu thủy sản trong quý 1 của nước ta đã giảm 8% cả về số lượng lẫn giá trị. Hơn nữa, xu hướng “gây khó dễ” từ một số thị trường lớn đã và đang tạo áp lực cho các doanh nghiệp trong nước.
Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết, trong quý I, thị trường nhập khẩu hàng thủy sản của Việt Nam đã co hẹp dần, còn 122 thị trường, giảm 37 thị trường so với cùng kỳ năm 2008. Điều này khiến sản lượng, giá trị của hầu hết các sản phẩm thủy sản xuất khẩu đều giảm mạnh.
Đã khó lại thêm “bó”
Sự sụt giảm tập trung chủ yếu ở các thị trường lớn như châu Âu, Nhật Bản, Mỹ, phần vì nhu cầu tiêu thụ giảm, phần khác do các nước này thắt chặt chính sách bảo hộ hàng nông, lâm, thủy hải sản trong nước, khiến các doanh nghiệp xuất khẩu nước ta ngày một khó khăn hơn.Theo dự báo của VASEP, ngày càng có nhiều thị trường tiêu thụ cá tra, cá basa của Việt Nam như Pháp, Tây Ban Nha, Italy, Ai Cập, Mỹ… đã và đang sử dụng các phương tiện truyền thông vào mục đích “bôi bẩn” nhằm hạ bệ sản phẩm nước ta. Những sự cố tại thị trường Ai Cập, Italy hay thị trường Nga (mới nối lại)…. thời gian vừa qua là minh chứng rõ nhất. “Sắp tới, các doanh nghiệp phải đối mặt với chính sách mới của ngành nông nghiệp Mỹ và cuộc thanh tra chất lượng thủy sản từ phía EU”, ông Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam khuyến cáo, các doanh nghiệp sẽ phải quen dần với những chính sách bảo hộ kiểu “sáng đúng, chiều sai, sáng mai lại đúng” từ các thị trường nhập khẩu, đặc biệt là Mỹ.Bên cạnh đó, sức cạnh tranh còn yếu cũng là nguyên nhân khiến khả năng tìm kiếm, chiếm lĩnh thị trường của các mặt hàng thủy sản Việt Nam thêm chật vật. Siết lại tiêu chuẩn xuất khẩuChưa hết nỗi lo đầu ra, các doanh nghiệp trong nước còn phải đối diện với hàng loạt những khó khăn từ những yếu tố đầu vào. Ba vướng mắc lớn nhất hiện nay là quy định hạn chế sản xuất giờ cao điểm, giá thức ăn cho thủy sản tăng cao và tỷ giá, khiến tính cạnh tranh của hàng thủy sản Việt Nam thêm yếu. Ông Chu Văn An, Phó tổng giám đốc Công ty thủy sản Minh Phú lấy ví dụ: Giá tôm xuất khẩu của Việt Nam luôn thấp hơn giá tôm cùng loại của Thái Lan từ 0,1đến 0,2USD một kg, trong khi đó chi phí đầu vào của chúng ta luôn cao hơn các nước từ 15.000 đến 30.000 đồng một kg. Nghịch lý này giải thích vì sao, cả người nuôi lẫn doanh nghiệp trong nước luôn than trời vì xuất khẩu nhiều mà lãi không được bao nhiêu. Theo ông An, nguyên nhân chủ yếu là do chi phí thức ăn chăn nuôi, yếu tố chiếm 60 đến 70% chi phí thành phẩm. Hầu hết các nhà máy thức ăn cho cá, tôm hiện nay đều có yếu tố nước ngoài, và việc bị làm giá là chuyện khó tránh khỏi. “Đơn cử năm 2008, thức ăn cho tôm tăng từ 14.500 đồng một kg lên 22.000 đồng một kg, sau đó giá nguyên liệu sản xuất thức ăn đồng loạt giảm từ 30 đến 50% nhưng giá thức ăn thành phẩm chỉ giảm có 500đồng một kg. Giờ giá nguyên liệu nhập nhích lên, các công ty lại rục rịch tăng giá”, ông An lo lắng.Thứ trưởng Bộ NN-PTNN, ông Lương Lê Phương lưu ý thêm, sở dĩ các sản phẩm xuất khẩu dễ bị phía nước ngoài “bắt thóp” bằng những lý do như: nhiễm khuẩn, dư lượng kháng sinh vượt mức cho phép… một phần do nhiều cơ sở, xí nghiệp nhỏ lẻ không đủ điều kiện sản xuất, chế biến vẫn được phép xuất khẩu. Hơn nữa thói quen “đổ bộ ào ạt” vào cùng một thị trường dễ gây những “cú sốc” về cung cầu cho các nhà nhập khẩu, tạo ác cảm cho các doanh nghiệp bản địa. “Vì vậy cần phải tính đến tiêu chuẩn cho các doanh nghiệp xuất khẩu, đồng thời thành lập những ban điều phối ở từng thị trường để cân bằng cung cầu”, ông Phương nói.
Đăng Thư



Lâu nay, trái điều sau khi được lấy hạt thường bị vứt bỏ lãng phí, gây hôi thối, làm ảnh hưởng tới môi trường. Nhưng gần đây, nhiều nông dân ở huyện Tân Phú đã biết chế biến cồn từ trái điều, tăng thêm thu nhập đáng kể.

Tân Phú có trên 5 ngàn hécta điều, chiếm khoảng 40% diện tích cây công nghiệp trong huyện, tập trung nhiều nhất ở các xã có vùng đồi dốc như: Phú Sơn, Phú An, Núi Tượng và Phú Trung. Hàng năm, nông dân chỉ trông chờ vào giá trị của những hạt điều, còn trái điều hầu như không ai sử dụng, bị vứt bỏ lãng phí tại vườn. Có những năm, giá hạt điều xuống thấp nên người trồng điều thu nhập không đáng kể.


Mới đây,Trung tâm khuyến công của tỉnh đã về chuyển giao kỹ thuật chế biến cồn khô từ trái điều cho bà con nông dân Tân Phú. Quy trình sản suất ra cồn điều khô này đơn giản và dễ làm. Trái điều sau khi tách lấy hạt được đem rửa sạch để ráo nước và được vắt hoặc ép để lấy nước điều. Sau đó cho dung dịch gelantine vào nước ép điều (với liều lượng 2 gam/lít) rồi đun sôi và lọc để lấy dịch điều. Cho thêm men vào dịch điều (với tỉ lệ 5 gam men/1lít dịch điều) để 5 ngày sau thì chưng cất 2 lần sẽ thu được cồn 80 - 85 độ. Cuối cùng là bỏ thêm chất phụ gia vào thành cồn khô. Tính ra chi phí để sản xuất được 11kg cồn khô từ 150 kg trái điều chỉ mất khoảng 25 ngàn đồng, so với giá thị trường hiện nay trên 20 ngàn đồng/kg cồn khô thì nông dân thu lãi khá cao. Chính vì vậy, sản xuất cồn khô từ trái điều đã mở ra cho người nông dân trồng điều ở Tân Phú một cơ hội mới để tăng thêm thu nhập.

Ông Nguyễn Hữu Mạnh , ấp Phú Lâm 1 xã Phú Sơn, cho biết mô hình sản suất ra cồn điều khô đã giúp nông dân chúng tôi có thêm nguồi thu mới từ trái điều. Đặc biệt là mỗi hộ dân đều có thể tự chế biến được cồn khô ngay tại nhà mình. Ông Lê Quang Hải, cán bộ hội nông dân huyện, còn cho biết trái điều được chưng cất thành cồn khô không chỉ có lợi về kinh tế mà còn giải quyết được ô nhiễm môi trường. Trước đây, sau khi thu hoạch hạt thì bà con vứt bỏ trái điều quanh vườn, tạo ra mùi hôi thối và thu hút nhiều ruồi nhặng làm ô nhiễm môi trường.

Đồng Nai có trên 40 ngàn hécta điều, chiếm trên 20% diện tích điều vùng Đông Nam bộ. Do vậy, việc chế biến ra cồn khô từ trái điều sẽ tăng thêm giá trị cho người trồng điều vài chụ tỷ đồng. Được biết, nhiều nước trồng điều trên thế giới không chỉ chế biến ra cồn khô, mà còn sản xuất ra rượu trắng trái điều, rượu vang, xô đa, trà gừng điều, hương điều... Đây là một hướng mới để phát triển cây điều ở Việt Nam và tăng thu nhập cho người nông dân trồng điều.

Trung bình 1 hécta điều có 5 tấn trái. Nếu chưng cất được toàn bộ trái điều này sẽ có được trên 440kg cồn khô. Với giá cồn trên thị trường hiện nay là trên 20 ngàn đồng/kg, thì người nông dân trồng điều có thêm thu nhập khoảng 8 triệu đồng/hécta. Theo ông Lâm Quang Liêm, Giám đốc Trung tâm khuyến công Đồng Nai, sau khi trợ giúp các hộ dân thành thạo việc chế biến ra cồn điều khô trung tâm sẽ kết hợp với phòng công thương huyện liên hệ tiêu thụ sản phẩm cho bà con nông dân. Cồn khô điều hiện nay là mặt hàng rất ưa chuộng ở các quán ăn, nhà hàng, khách sạn trong cả nước. Vì nó tiện ích lại đảm bảo an toàn cho người sử dụng, hơn hẳn so với bếp gas hoặc bếp điện.
Lê Ngân

Giá hồ tiêu – tăng hay giảm?

Người đăng: Cong Phien | 18:13 | 0 Bình luận »

Thứ sáu, 03/04/2009, 23:42 (GMT+7)

Theo Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA), 3 tháng đầu năm 2009, các doanh nghiệp đã xuất khẩu được khoảng 25.000 tấn hồ tiêu các loại, đạt kim ngạch gần 60.000 triệu USD, tăng 65% về lượng so với cùng kỳ 2008, nhưng giá giảm khá mạnh, bình quân giá tiêu đen giảm 31%, còn 2.282 USD/tấn và tiêu trắng giảm 29%, còn 3.679 USD/tấn. Giá hồ tiêu trong nước dao động trên dưới 30.000 đồng/kg, trong khi thời cao điểm là 60.000 đồng/kg.

Năm 2009 được đánh giá sẽ là năm không thuận lợi, nếu không nói là khó khăn của ngành hồ tiêu thế giới, trong đó có Việt Nam, do sản lượng hồ tiêu các nước đều tăng, khoảng 305.000 tấn (tăng 4,8% so với năm 2008), tương đương khoảng 14.000 tấn, trong đó, hồ tiêu Việt Nam đã thu hoạch xong là 95.000 tấn (tăng khoảng 4.000 tấn so với năm 2008).

Bên cạnh đó, các nước nhập khẩu đều giảm sản lượng tồn kho do tài chính khó khăn. Nhưng theo VPA, hồ tiêu Việt Nam vẫn có lợi thế cạnh tranh so với các nước vì năng suất bình quân hồ tiêu VN so với các nước rất cao, khoảng 2 tấn/ha so với các nước chỉ trên dưới 1 tấn/ha.

Hồ tiêu Chư Sê (Gia Lai), sau khi là địa phương đầu tiên xây dựng được thương hiệu đã ngày càng nổi tiếng trên thị trường thế giới với giá bán luôn cao hơn những địa phương khác 5%-10%. Năng suất hồ tiêu bình quân tại đây rất cao, khoảng 5 tấn/ha/vụ, có nhiều vườn lên đến 5-7 tấn/ha/vụ, cá biệt có vườn đạt 10 tấn/ha/vụ. Với mức giá như trên những hộ này lãi ròng khoảng 50% (năm 2008 lãi ròng 60%-70%).

Vì vậy, VPA đề nghị những vùng hồ tiêu nổi tiếng như Lộc Ninh (Bình Phước), Châu Đức (Bà Rịa – Vũng Tàu), Ehleo (Đắc Lắc), nhất là hồ tiêu Phú Quốc (Kiên Giang) sớm xây dựng thương hiệu để nâng cao chất lượng nông sản và thu nhập nông dân, tạo thế đứng bền vững cho hồ tiêu Việt Nam trên thị trường thế giới.

Tuy nhiên, ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch VPA, cho rằng, để hạn chế rủi ro cho nhà vườn và doanh nghiệp, cần nắm sát thông tin, cung cấp kịp thời diễn biến thị trường, tránh bán ra ồ ạt, dẫn đến việc hạ giá bất lợi cho nhà vườn và xuất khẩu. Nếu làm được điều này, với lượng hồ tiêu VN chiếm 40%-50% lượng hàng xuất khẩu của thế giới thì năm 2009 có thể giữ được ở mức giá bình quân 2.000 USD/tấn.

Không phải ngẫu nhiên, tại buổi họp thường niên, những nhà xuất khẩu hàng đầu hồ tiêu Việt Nam đều tự tin là giá sẽ không giảm, sau 4-5 tháng êm hơi, nhà nhập khẩu bắt đầu tìm mua hàng trở lại. Động thái này sẽ thúc đẩy giá lên. Hiện giá hồ tiêu trong nước có dấu hiệu phục hồi, từ 29.500 - 30.000 đồng/kg nhích lên 32.000 đồng/kg.

ĐĂNG LÃM


Hiếm có dự án nào dù nhận được sự đồng thuận cao mà lại lận đận như Khu nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) TPHCM. Chủ trương đã có từ đầu những năm 2000, địa điểm đã được chọn, nhưng vào giờ chót (sau khi đã mất vài năm khảo sát, đánh giá và làm thủ tục) địa điểm lại bị thay đổi, từ quận 12 lên huyện Củ Chi, để có điều kiện mở rộng diện tích. Và mọi việc phải làm lại từ đầu. Nhưng đó mới chỉ là phần thủ tục đất đai, xây dựng…

Do trượt giá, dự toán phải điều chỉnh nhiều lần nên thời gian triển khai dự án càng kéo dài. Không những vậy, do lần đầu tiên Việt Nam có khu NNCNC nên mọi việc đều phải mày mò tìm hiểu, đặc biệt là việc xây dựng hành lang pháp lý liên quan sao cho phù hợp, tạo được sự an tâm cho nhà đầu tư, nhất là nhà đầu tư nước ngoài.


Chủ tịch UBND TPHCM Lê Hoàng Quân thăm khu sản xuất giống của Công ty CP Phát triển và đầu tư Nhiệt Đới.


Dù công việc xây dựng hạ tầng còn ngổn ngang, phần xây dựng cơ bản chưa xong, vẫn có 16 nhà đầu tư đăng ký thuê mặt bằng ở khu NNCNC để sản xuất. Ban quản lý (BQL) đã xem xét và thông qua 5 dự án của 5 nhà đầu tư đăng ký thuê 28ha/56ha đất đã quy hoạch xây dựng nhà xưởng. Có thể kể đến Công ty Nông nghiệp Chánh Phong với dự án đầu tư sản xuất giống rau F1, Công ty cổ phần Trái Đất Tươi Xanh với dự án sản xuất rau hữu cơ sinh thái theo kỹ thuật mới nhất, Công ty TNHH SXTM Việt Quốc Thịnh với dự án sản xuất chế phẩm sinh học phục vụ nông nghiệp và xây dựng điểm trình diễn rau an toàn.

Đi đầu trong việc mạnh dạn đầu tư phải kể đến Công ty cổ phần Phát triển và đầu tư Nhiệt Đới với dự án nghiên cứu và lai tạo các giống rau ăn lá và ăn quả trên diện tích thuê lên đến 20ha. Ngoài dự án trên, công ty còn ứng dụng và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật công nghệ cao trong nông nghiệp.

Tổng vốn của các nhà đầu tư vào Khu NNCNC đã trên 224 tỷ đồng, trong đó riêng Công ty cổ phần Phát triển và đầu tư Nhiệt Đới đầu tư 204 tỷ đồng. Công ty CP Phát triển và đầu tư Nhiệt Đới, song song với việc thực hiện các thủ tục xin cấp giấy chứng nhận đầu tư và thuê đất đã kiến nghị TP được sản xuất trước. Được BQL tạm giao đất, công ty đã và đang xây dựng nhà kín đồng thời trồng các giống cây ngắn ngày như rau ăn lá, mướp, bí đao, dưa leo, cà chua… lấy hạt làm giống, cung cấp giống cây chất lượng cao cho TPHCM, các tỉnh phía Nam, kể cả một số tỉnh phía Bắc. Thực tế này đã phá tan sự lo lắng của không ít người về việc Khu NNCNC khó thu hút được nhà đầu tư.

Theo ông Trần Phước Dũng, Giám đốc BQL Khu NNCNC, hiện BQL đang tiếp tục xem xét hồ sơ của 2 nhà đầu tư. Đó là 2 dự án của Công ty TNHH Long Đỉnh với dự án sản xuất lan và Công ty TNHH TM Đan Nguyễn với dự án sản xuất rau sạch.

Theo ông Dũng, nếu tính hết số diện tích mà các nhà đầu tư đã đăng ký thì phần đất còn lại của Khu NNCNC không đáp ứng đủ. Ngay cả Công ty cổ phần Phát triển và đầu tư Nhiệt Đới cũng cho biết, nếu được đồng ý, công ty sẽ thuê dài hạn tất cả phần diện tích còn lại của Khu NNCNC để đầu tư sản xuất giống các loại cây trồng.

Mới đây, trong chuyến đi thực tế và làm việc với BQL Khu NNCNC TP (huyện Củ Chi), Chủ tịch UBND TPHCM Lê Hoàng Quân chỉ đạo, để Khu NNCNC có thể chính thức đi vào hoạt động vào tháng 9 tới, các sở ngành và nhất là BQL cần sớm hoàn thành các hạng mục về đường, điện, nước để tạo sự yên tâm cho nhà đầu tư. Khu NNCNC và nhà đầu tư cần phải chú ý đến việc gắn kết với bà con nông dân tại chỗ, cung cấp giống chất lượng tốt với giá vừa phải, chú ý hoạt động tập huấn và áp dụng công nghệ cao trong việc sản xuất giống các loại. Đó mới là ý nghĩa thiết thực trong việc xây dựng Khu NNCNC.

Để đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư, Chủ tịch Lê Hoàng Quân chỉ đạo huyện Củ Chi và Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn (SAGRI) cần sớm hình thành thêm 2-3 khu NNCNC mới.

CÔNG PHIÊN

ST5 - “Hoa hậu” miền đất mặn

Người đăng: Cong Phien | 20:39 | 0 Bình luận »


SGGP-12G).- Sau nhiều năm mày mò, thử nghiệm, nông dân vùng đất nhiễm mặn ĐBSCL: Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu như tìm được “vàng” khi thực hiện thành công mô hình tôm - lúa bền vững với giống chất lượng cao ST5. Tại Sóc Trăng - “vương quốc ST5” - lúa vừa suốt xong được thương lái mua với giá 4.700 đến 5.500đ/kg. Còn ở Trà Vinh giá lúa ST5 tăng cao kỷ lục từ 5.200đ đến 6.000đ/kg. Người dân vùng nhiễm mặn ven biển phong cho giống lúa ST5 cái tên “Hoa hậu” miền đất mặn…

Giống lúa “ 3 trong 1”

Hơn tháng nay, nhiều thương lái miền Tây đổ về Sóc Trăng, Trà Vinh,… thu mua lúa ST5. Phần lớn lúa chất lượng cao ST5 được thương lái thu mua phục vụ cho xuất khẩu nên giá khá cao. Nông dân Lâm Văn Hớn, xã Hiệp Mỹ Đông, Cầu Ngang (Trà Vinh) vừa thu hoạch xong 0,5ha lúa ST5 trên chân đất nhiễm mặn nuôi tôm, phấn khởi chia vui: “Hiện lúa ST5 trồng ở đây năng suất đạt bình quân hơn 4,5tấn/ha, cao hơn 0,8 tấn/ha so giống lúa mùa địa phương, giá lúa từ 4.700 đến 5.200đ/kg, có lúc 6.000đ/kg, nông dân thu lãi từ 12 đến 16 triệu đồng/ha, cao gần 2 lần giống lúa khác. Nuôi một vụ tôm mùa nắng trồng một vụ lúa ST5 mùa mưa đang là hướng lựa chọn của nông dân vùng này. Trúng tôm, được lúa lợi ích kinh tế gấp đôi, nếu lỡ thua tôm vẫn còn có lúa ST5 để mà gỡ lại. Nông dân ở đây giờ 80% mê ST5”.


Lúa ST5 cho năng suất gần 6 tấn/ha trên đất nhiễm mặn Trà Vinh


Năm nay, vùng tôm - lúa các xã Hiệp Mỹ Đông, Hiệp Mỹ Tây, Mỹ Long Nam, huyện Cầu Ngang (Trà Vinh) nông dân đều thắng đậm vụ lúa mùa. Trúng mùa, được giá “thương hiệu ST5” càng hấp dẫn đối với nhà nông. Kỹ sư Nguyễn Đức Mậu, Trưởng phòng NN-PTNT Cầu Ngang (Trà Vinh) phấn chấn khoe: “Với ưu điểm thích nghi rộng cả 3 vùng nước ngọt, lợ và chân đất nuôi tôm nhiễm mặn, năng suất khá cao (4,5 - 5 tấn/ha), gạo dẻo, thơm ngon, không bạc bụng, đạt chuẩn xuất khẩu... nên ST5 được nông dân gọi là “Hoa hậu” miền đất mặn. Điều lý thú là ST5 trồng trên chân đất nuôi tôm nhiễm mặn, cơm dẻo, thơm lâu đáo để”.

3 năm đưa giống lúa ST5 sản xuất trên chân đất nuôi tôm nhiễm mặn, điều đáng ghi nhận là ngoài ưu điểm về lợi ích kinh tế, ST5 còn tạo ra bước đột phá về cơ cấu mùa vụ, cơ cấu sản xuất địa phương. Và hơn thế nữa là sự phát triển bền vững của hô hình tôm - lúa ở đất nhiễm mặn.

Thương hiệu ST5

Kỹ sư Hồ Quang Cua, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT Sóc Trăng, “cha đẻ” giống lúa ST5 cho biết: “So với “đàn anh” ST3, giống lúa ST5 có nhiều tính năng vượt trội: Nở bụi mạnh, thân cứng, lá thẳng, rễ phát triển mạnh và hạt dài. Lai lịch của giống lúa ST5 có họ hàng với giống Khao Đát Mali. Năm 2006, giống lúa ST5 được trồng đại trà ở ĐBSCL và được Bộ NN-PTNT khuyến khích nhân rộng ở nhiều địa phương”. Nhẹ phân, dễ trồng và đặc biệt để nuôi được tôm, cá sau vụ lúa nên mô hình canh tác lúa ST5 giảm thiểu tối đa việc sử dụng thuốc nông dược. Chính vì vậy lúa ST5 không chỉ chiếm vị thế “độc tôn” trên chân đất nhiễm mặn nuôi tôm mà còn được “ưu ái” trên vùng đất phèn nước ngọt và lợ…

“Trước tình hình giống lúa IR 50404, giống lúa OM 576 (Hàm Châu) bị bạc bụng, khó khăn về đầu ra nên vụ mùa này tôi dự định chuyển hết 7ha trồng lúa sang canh tác giống ST5 nhưng do nguồn giống khan hiếm nên chỉ trồng được 2ha. Với ST5, nhiều hộ thâm canh giỏi năng suất đạt hơn 5,5tấn/ha, canh tác 1ha lúa ST5 thu lãi 12 đến 18 triệu đồng, gần gấp 2 lần lúa địa phương. Nông dân ở đây giờ mê ST5 lắm vì đầu ra luôn ổn định”, nông dân Lâm Văn Cường ở xã Trường Thọ, Cầu Ngang thổ lộ.

Với ưu thế vượt trội về năng suất, chất lượng, giá trị xuất khẩu, thích nghi rộng ở nhiều vùng đất, năm 2009 ngành nông nghiệp tỉnh Trà Vinh có kế hoạch mở rộng diện tích trồng giống lúa ST5 lên đến 15.000ha và tiến tới xây dựng thương hiệu “lúa sạch” xuất khẩu trong tương lai.

Sau hơn 10 năm làm việc miệt mài, với những thành tích nổi bật lai tạo ra giống lúa ST3, ST5… chịu được phèn mặn cho vùng tôm lúa ĐBSCL, kỹ sư Hồ Quang Cua được nhà nước tặng Huân chương Lao động hạng hai. Mới đây, kỹ sư Hồ Quang Cua, Trưởng nhóm nghiên cứu giống lúa thơm ST báo tin mừng lại vừa cho “ra lò” bộ lúa thơm giống mới với tên ST21, đánh dấu thêm bước thành công của bộ giống lúa thơm ST với năng suất khá cao, đặc biệt là khả năng chống sâu bệnh được đánh giá là “hơn cả sự mong đợi!”…


Đình Cản