Tuy giá một số nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi( TACN) nhập khẩu đang tăng giá và cũng có nhiều thông tin về việc tăng giá bán thành phẩm tại thị trường trong nước nhưng ở thời điểm này, giá các loại thức ăn chăn nuôi tại thị trường TP.HCM và các tỉnh lân cận vẫn bình ổn và được dự báo sẽ không có biến động mạnh trong thời gian sắp tới
Chưa có dấu hiệu tăng giá
Theo khảo sát tại một số đại lý phân phối và bán lẻ TACN tại TP.HCM, và Đồng Nai, Bình Dương… giá các loại TACN thành phẩm phổ biến trên thị trường hiện nay như Higro, Vina, Thanh Bình, Năm Sao, Con cò… vẫn đứng ở mức giá từ trước tết nguyên đán và chưa có dấu hiệu tăng giá. Cụ thể các loại cám Higro vẫn ổn định ở mức 261.000đồng/bao dành cho heo tập ăn; 212.000đồng/bao dành cho heo thịt loại 20-50kg; 178.000 đồng/bao dành cho heo thịt loại 50 - 70 kg. Cám Vina128.000đồng/bao dành cho heo thịt loại từ 30-60kg; 122000đ đồng/bao dành cho heo thịt từ 60kg trở lên…Các thức ăn chăn nuôi gia cầm và thủy hải sản cũng chưa tăng giá. Các chủ đại lý cho biết đến thời điểm hiện nay vẫn chưa có mặt hàng TACN nào được thông báo là sẽ tăng giá bán.
Khi được hỏi về việc tăng giá bán hầu hết các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh TACN đều tỏ ra khá dè dặt với tâm lý chung là chờ diễn biến của thị trường. Nhìn chung hầu như chưa có doanh nghiệp nào có kế hoạch điều chỉnh giá bán thành phẩm ở thời điểm hiện tại, do người chăn nuôi đang có xu hướng thu hẹp sản xuất.
Theo Ông Suwes Wangrungarun, Phó tổng giám đốc công ty CP chăn nuôi CP Việt Nam: Hiện công ty chưa có chủ trương tăng giá bán vì vẫn còn nguồn nguyên liệu dự trữ. Tuy nhiên, nếu giá nguyên liệu đầu vào vẫn tăng như thời điểm hiện nay thì đến khoảng tháng 4, tháng 5 giá các loại TACN của CP có thể sẽ được điều chỉnh tăng giá nhưng cũng chỉ tăng nhẹ ở mức 100 –150 đồng/kg. Thông tin từ công ty TNHH Vina cũng cho biết, tuy giá nguyên liệu đã tăng nhưng công ty vẫn giữ giá bán thành phẩm để hỗ trợ cho người chăn nuôi, tuy nhiên trong thời gian tới nếu giá nguyên liệu tiếp tục tăng cao thì có thể sẽ điều chỉnh giá tăng khoảng 5% .
Sẽ không có biến động lớn
Dự báo về thị trường thức ăn chăn nuôi trong thời gian sắp tới đa số các ý kiến cho rằng, sẽ không có biến động lớn về giá cả ở hầu hết các mặt hàng. Anh Giang Minh Đại, chủ đại lý cấp 1 các sản phẩm TACN Higro, Vina, Ocialis tại khu vực Thủ Đức, Quận 9, Quận 2 (TP.HCM) nhận định, thị trường thức ăn chăn nuôi trong thời gian tới sẽ không có sự biến động mạnh về giá như thời điểm tháng 7, tháng 8 năm ngoài mà chỉ tăng nhẹ theo sự biến động của giá nguyên liệu đầu vào. Đại diện một doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi cũng cho rằng, cơn sốt giá thức ăn chăn nuôi năm ngoái cũng chỉ là sốt “ảo” vì giá cũng chỉ tăng đột biến trong thời gian ngắn rồi lại hạ xuống. Hiện nay tuy giá nguyên liệu có tăng nhưng cũng chỉ tăng nhẹ vì nguồn cung của các thị trường chính vẫn còn khá dồi dào, vẫn có thể đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ của thị trường trong nước. Ý kiến từ công ty Vina cũng cho rằng, tuy thị trường thức ăn chăn nuôi hiện nay rất khó dự báo nhưng cũng khó xảy ra tình trạng tăng giá đột biến mà chỉ dao động ở mức 10%, vì nhìn chung, các doanh nghiệp đã giải quyết được khó khăn về nguồn vốn.
Về vấn đề thức ăn chăn nuôi tăng giá, trong một phát biểu mới đây, Ông Nguyễn Xuân Dương, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi, Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn cũng khẳng định, thị trường thức ăn chăn nuôi mới chỉ xảy ra biến động giá ở một số mặt hàng nguyên liệu, giá các loại thức ăn chăn nuôi tuy có tăng nhưng vẫn ở trong tầm kiểm soát.
Lan Phương (đăng trên NÔNG THÔN NGÀY NAY)
Giá thức ăn chăn nuôi: Nguyên liệu lên, thức ăn chưa lên
Người đăng: luuphan | 09:59 | Thức ăn chăn nuôi | 0 Bình luận »Ông Trương Văn Sáu, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long – nơi vừa tổ chức hội nghị bàn chuyện sản xuất lúa vụ hè thu, đã bày tỏ mối lo khi chính quyền địa phương này năm vừa qua đã đưa ra khuyến cáo sử dụng giống lúa không trúng. Ông nói với đại diện Bộ Nông nghiệp và PTNT, việc làm này có thể làm mất uy tín chính quyền với dân, những lần khuyến cáo sau dân sẽ không nghe nữa.
Cũng lại là chuyện giống lúa IR 50404. Năm ngoái, khi thị trường gạo xuất khẩu gặp khó khăn, thương lái đi mua lúa căng biển trên ghe “không mua lúa IR 50404”. Người trồng lúa IR 50404 phải ôm hàng tồn đọng hoặc phải chịu lỗ lã bán tháo. Vậy là cơ quan quản lý ngành nông nghiệp, ủy ban nhân dân nhiều địa phương đưa ra khuyến cáo, thậm chí có địa phương chỉ đạo cấm trồng giống lúa này. Trớ trêu là đầu năm nay thương lái cũng đưa ghe đi mua lúa, nhưng lần này lại căng biển “chỉ mua lúa IR 50404”. Câu chuyện này được đại diện Sở Nông nghiệp và PTNT Đồng Tháp nêu ra như dẫn chứng về sự lúng túng của ngành trong công tác tuyên truyền hướng dẫn người dân sử dụng giống lúa.
Thực tế hiện nay người nông dân chỉ có cách theo tín hiệu thị trường phát ra từ thương lái – là người mua lúa trực tiếp từ nông dân để cung cấp cho doanh nghiệp xuất khẩu gạo. Các công ty xuất khẩu gạo quốc doanh có sản lượng kinh doanh hàng năm đến hàng trăm ngàn tấn cũng phải thừa nhận chưa thể tổ chức mua lúa, mà ngồi chờ thương lái mua gom lúa về, xay xát chế biến… thậm chí giao đến tận mạn tàu cho công ty xuất khẩu. Đến lượt mình, thương lái dựa vào hợp đồng xuất khẩu để chọn mua lúa để chế biến ra loại gạo có phẩm cấp tương ứng. Nếu hợp đồng xuất khẩu yêu cầu loại gạo có tỉ lệ tấm thấp thì chọn loại lúa tốt để làm ra gạo ít hạt gãy vỡ. Ngược lại, với hợp đồng xuất loại gạo tỉ lệ tấm cao thì họ sẽ chọn nhiều lúa chất lượng thấp hơn, giá mềm hơn, mà loại này phổ biến là giống IR 50404.
Trao đổi với Nông Thôn Ngày Nay, Tiến sĩ Bùi Chí Bửu – người vừa được Viện Nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI) trao tặng giải thưởng khoa học mang tên Dharmawansa Senadhira, cho rằng mấu chốt là gạo xuất khẩu của Việt Nam vẫn chủ yếu là gạo pha tạp từ nhiều chủng loại giống, phân loại phẩm cấp theo tỉ lệ tấm. Trong khi các nước khác xuất khẩu gạo thường là những loại có giống thuần chủng, chẳng hạn trong hợp đồng mô tả “gạo trắng hạt dài”, hoặc gạo Jasmine, Basmati…
Để có gạo xuất khẩu như các nước, đòi hỏi doanh nghiệp xuất khẩu phải tham gia toàn bộ quá trình sản xuất ra hạt gạo. Chính các doanh nghiệp này phải đầu tư giống lúa cho nông dân theo những vùng chuyên canh và đảm bảo bao tiêu sản phẩm. Thực tế ở Việt Nam đã có mô hình tương tự rất hiệu quả nhưng sản lượng hàng năm mới chỉ vài chục ngàn tấn. Nếu mô hình này được nhân rộng, chiếm tỉ trọng lớn trong hơn 4 triệu tấn gạo xuất khẩu của Việt Nam thì có lẽ sẽ không còn những câu chuyện khó ăn khó nói giữa cơ quan quản lý nhà nước với nông dân như kể trên.
(đăng trên NÔNG THÔN NGÀY NAY)
Về cà phê: TS. Nestor Osorio, GĐ điều hành Tổ chức cà phê thế giới đã nhìn nhận về tổng quan, cây cà phê được trồng ở hầu hết các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển. Brazil là nước đứng đầu thế giới về sản lượng và diện tích cà phê (chiếm khoảng 33%). Do vậy sự biến động sản lượng cà phê của thị trường nước này cũng sẽ ảnh hưởng đến sản lượng cà phê của toàn thế giới. Sau Brazil, Việt Nam và Colombia cũng là những nước sản xuất cà phê quan trọng. Tổng lượng cà phê của cả 3 nước chiếm tới 58% trên tổng sản lượng cà phê thế giới. Trong đó, Brazil và Colombia sản xuất cà phê Arabica lớn nhất, còn VN sản xuất cà phê Rubusta nhất thế giới. Colombia, cũng là nhà sản xuất cà phê chế biến ướt lớn nhất (với 300.000 ha) và đất nước này hiện đang có chính sách phát triển loại cà phê này sang nhiều nước khác. Ông Nestor Osorio đánh giá cao sự phát triển của ngành cà phê VN trong những năm gần đây, đóng vai trò quan trọng đối với thị trường cà phê Châu á và trên thế giới. Ở VN cây cà phê cũng đã mang lại nguồn thu nhập quan trọng cho nhiều nông hộ, đặc biệt ở vùng núi và khu vực nông thôn. Thống kê cho thấy, riêng mặt hàng cà phê chiếm khoảng 8% tổng giá trị nông sản và 15% giá trị xuất khẩu nông nghiệp của VN.
Bà Trần Thị Quỳnh Chi, Viện Chính sách và chiến lược PT NNNT cho hay, ngay từ đầu thập kỷ 90 diện tích cây cà phê thâm canh của VN đã tăng mạnh, đặc biệt có thời điểm ở vùng Tây Nguyên (ĐăkLăc, Lâm Đồng) diện tích cà phê tăng đột biến, nhưng từ sau năm 2004 đến nay diện tích cà phê VN đã dần ổn định. Tuy nhiên, năm qua tình hình sản xuất cà phê ở VN có nhiều biến động, ảnh hưởng mạnh do thời tiết thất thường, khiến năng suất và sản lượng cà phê bị giảm sút đáng kể, còn chi phí sản xuất cũng tăng gấp đôi. Năm 2008, cà phê VN đã xuất khẩu được trên 100 nước trên thế giới. Giá cà phê đã tăng mạnh trong những tháng đầu năm, nhưng đến cuối năm lại giảm mạnh do ảnh hưởng sự khủng hoảng giảm phát. Chiếm khoảng 20 % DN gặp khó khăn (trong đó chiếm phân nửa là DN vừa và nhỏ), khiến nhiều DN có thể bị phá sản. Theo ông Nguyễn Anh Tuấn – DN Cà phê Control ĐắkLắk, chính yếu tố chất lượng đã ảnh hưởng đến uy tín và giá trị thương phẩm của cà phê. Ngoài ra, giá cả thị trường cà phê có thể còn bị ảnh hưởng do nhiều vấn đề khác như điều kiện khí hậu, đất đai, kể cả, chính trị xã hội…
Còn nghiên cứu của các chuyên gia cà phê, bình quân đầu người ở VN lượng tiêu thụ cà phê chỉ bằng 1/10 hoặc 1/20 của Brazil. Thực tế nhiều DN đã tiêu tốn tới hàng triệu đô la để quảng bá sản phẩm nhưng vẫn không hiệu quả vì không nắm bắt được nhu cầu của người tiêu dùng trong nước. Vì vậy, cần có một chính sách cụ thể cho ngành hàng cà phê phát triển bền vững. Việc quản lý chất lượng cà phê phải được thực hiện trong suốt quá trình từ khâu trồng trọt, chăm sóc, thu hoạch, chế biến và bảo quản.
Về chăn nuôi: TS.Mohammad Jabbar, Viện nghiên cứu chăn nuôi quốc tế nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc xây dựng chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu. Đáng lưu ý nhất là vấn đề tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm cho thị trường nội địa và xuất khẩu, cần phải đi vào sản xuất CN hóa và chăn nuôi tập trung. Ông Hoàng Kim Giao, Cục trưởng Cục chăn nuôi cũng thống nhất quan điểm, sẽ hướng tới sản xuất chăn nuôi theo quy mô trang trại, công nghiệp. Đồng thời nghiên cứu chính sách hỗ trợ cho các cơ sở chăn nuôi trang trại, công nghiệp, cơ sở giết mổ, chế biến gia súc gia cầm đều phải có hệ thống xử lý chất thải, bảo vệ môi trường và quản lý chặt chẽ dịch bệnh.
Về nông nghiệp lúa gạo: Theo TS. Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Chính sách & chiến lược PTNNNT, khẳng định rằng chưa bao giờ việc phân tích, dự báo thị trường lại cần thiết như hiện nay, nhất là trong lĩnh vực lúa gạo, cà phê, chăn nuôi khả năng dự báo thị trường còn rất khó. Qua đây cho thấy vấn đề dự báo và sự nắm bắt thông tin của chúng ta không tốt vì thế người làm chính sách không phản ứng kịp tình hình, không ra quyết định kịp thời. Các chính sách hỗ trợ của Nhà nước cần phải được đẩy mạnh, tăng cường nguồn vốn cho nông nghiệp. Theo khuyến cáo chung của Bộ NN-PTNT, người nông dân không nên mở rộng diện tích sản xuất, nên đi vào thâm canh tằng năng xuất, sản lượng. Đồng thời xây dựng lại hệ thống tiếp thị, cải tiến khâu chế biến bảo quản để nâng cao giá trị cho sản phẩm nông sản. Cần chuyển đổi cơ cấu, đổi mối tư duy sản xuất của người nông dân để khôi phục phát triển kinh tế.
Các chất vấn “nóng” về vấn đề cơ chế chính sách liên quan đến lĩnh vực: tiếp cận thị trường, chất lượng sản phẩm, tăng cường năng lực, chính sách điều hành, hay sự phối hợp với các đối tác…đã được các đại biểu thẳng thắn trao đổi tại hội tảo này. Ngoài ra, nhiều ý kiến cũng tập trung đề cập đến chính sách hỗ trợ kích cầu, phát triển nghề chăn nuôi, xây dựng hệ thống kho dự trữ; hay làm thế nào để giữ mức tăng trưởng ổn định chất lượng, giá cả thị trường. Trước những biến động về giá trong sản xuất nông nghiệp, vậy có chính sách nào hỗ trợ thị trường nông sản bền vững đảm bảo cho người dân yên tâm sản xuất. Vấn đề bảo hiểm nông nghiệp cũng được đặt ra nhằm hỗ trợ phòng tránh rủi ro trong sản xuất do thiên tai mang lại…
TS.Võ Trí Thành, Trưởng ban Nghiên cứu chính sách hội nhập kinh tế quốc tế, Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương: Sự khủng hoảng toàn cầu đã kéo theo những hệ lụy về sản xuất, tác động trực tiếp đến ngành nông nghiệp. Những mặt chịu ảnh hưởng rất lớn, như giá cao su đã sụt giảm rất mạnh do nhu cầu cao su thế giới giảm, là nguyên nhân làm giảm sản xuất. Để phát triển ngành nông nghiệp phải nhìn nhận trong tổng thể phát triển toàn bộ nền kinh tế. Nông nghiệp phát triển bền vững cần phải tích tụ đất đai sẽ tạo ra được quy mô sản xuất lớn và ứng dụng KHKT mới tăng được năng suất.
Nhiều tờ báo, đài địa phương và cả truyền hình trung ương những ngày gần đây liên tục đưa tin về chuyện người dân Đồng bằng Sông Cửu Long đổ xô đi mua giống lúa IR 50404 để trồng vụ hè thu năm nay. Giống lúa này đã bị Hiệp hội Lương thực Việt Nam và cơ quan quản lý nông nghiệp nhiều địa phương khuyến cáo hạn chế canh tác. Họ lập luận rằng giống lúa IR 50404 là thủ phạm gây ra tình trạng lúa gạo tồn đọng, rớt giá thê thảm làm nhiều nông dân khốn khổ vào nửa cuối năm ngoái.
Tất nhiên báo chí đưa ra lời lý giải cho chuyện này. Đơn giản là vì thực tế giống IR 50404 vẫn mang lại lợi nhuận nhất cho người trồng lúa. Tờ Hà Nội Mới có lẽ chi tiết nhất: Đến giữa tháng 2/2009, khi thu hoạch các trà lúa đông xuân sớm, nông dân bán lúa IR 50404 được giá không kém các loại lúa chất lượng cao. Trong khi đó, năng suất lúa lại cao hơn khoảng 15%. Chưa kể trồng lúa IR 50404 giúp tiết kiệm được tiền bơm nước một lượt, giảm được một lần bón phân.
Thông tấn xã Việt Nam thì nêu nguyên nhân chính xảy ra tình trạng này là do bước sang năm 2009, thị trường xuất khẩu gạo có xu hướng đổi chiều, nhu cầu gạo cấp thấp tăng cao, giá cả hợp lý… Từ đó, có nhiều doanh nghiệp chọn đối tác có nhu cầu lọai gạo này để ký hợp đồng xuất khẩu, đẩy giá lúa IR 50404 lên đến 4.050- 4.150 đồng/kg, tương đương với giá lúa hạt dài phẩm chất gạo tốt. Trong khi đó, giống lúa IR 50404 có thời gian sinh trưởng ngắn (từ 85- 90 ngày), thích nghi rộng với nhiều vùng đất… nên nông dân trồng giống lúa này trong vụ lúa đông xuân 2008- 2009 thắng đậm.
Rõ ràng vấn đề ở đây là thị trường chứ không thể đổ oan cho giống lúa. Khi nguồn cung dư thừa thì chủng loại lúa gạo nào cũng khó bán, phải giảm giá. Khi thị trường thiếu hụt thì “ngay cả gạo IR 50404, giống cho năng suất cao, nhưng chất lượng bình thường, cũng có khách hàng yêu cầu ký hợp đồng xuất khẩu” - trả lời của Tổng Giám đốc Tổng Công ty Lương thực miền Nam, kiêm Chủ tịch Hiệp hội Lương thực VN, ông Trương Thanh Phong trên Sài Gòn Giải phóng cuối năm 2007 về triển vọng thị trường xuất khẩu gạo năm 2008. Ông còn khẳng định tại hội nghị sản xuất lúa gạo của Bộ Nông nghiệp và PTNT vào tháng 3/2008 là “giống gì cũng bán được với giá cao và… thị trường mênh mông, có bao nhiêu bán hết bấy nhiêu”. Nhưng cũng chính ông là người phát biểu nguyên nhân tồn đọng lúa gạo vào nửa cuối năm 2008 là vì nông dân sử dụng nhiều giống IR 50404. Thực tế, giai đoạn này nhiều loại lúa gạo ngon trong nước cũng phải hạ giá mà vẫn khó tìm đầu ra…Tất nhiên, trong hoàn cảnh cung thừa thì lúa gạo ngon vẫn có nhiều cơ hội tiêu thụ hơn.
Chính vì vậy, bên cạnh yêu cầu về năng lực mở rộng thị trường xuất khẩu gạo, để người nông dân lựa chọn giống lúa phù hợp, hiệu quả, thì năng lực dự báo thị trường là hết sức quan trọng. Thực hiện công việc này, được ưu đãi hơn hết và cũng phải nhận trách nhiệm hơn hết là các doanh nghiệp quốc doanh đầu đàn, hiệp hội lương thực… nhằm đảm bảo phục vụ lợi ích quốc gia, bảo vệ quyền lợi người nông dân.
(đăng trên NÔNG THÔN NGÀY NAY)
Giãi bày” chuyện tính giá điện giờ cao điểm vào buổi sáng
Người đăng: Nặc danh | 15:56 | 0 Bình luận »
| ||||||||||
Chính vì thế mà chiều 27/3, đại diện Bộ Công Thương, Cục Điều tiết điện lực và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã phải nhờ đến báo chí để “giãi bày” quanh việc tính giá điện theo cách trên.
Lý giải cho việc áp dụng tính giá điện theo giờ cao điểm vào cả buổi sáng (từ 9h30 – 11h30) và buổi tối (từ 17h - 23h), Cục trưởng Cục Điều tiết điện lực Phạm Mạnh Thắng cho rằng, lý do đơn giản nhất là do chúng ta còn thiếu điện, nên buộc phải khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng điện vào những giờ thấp điểm.
Hơn nữa, theo ông, việc áp dụng tính giá điện giờ cao điểm vào buổi sáng dù là khá mới ở Việt Nam, nhưng ở hầu hết các nước đều đã áp dụng cách tính này.
Ông Thắng nói, từ năm 2007 trở về trước, hệ thống điện của cả nước có tỷ trọng công suất cao nhất là thành phần ánh sáng sinh hoạt và dịch vụ nên cao điểm hệ thống rơi vào các giờ buổi tối từ 17h đến 22h.
Tuy nhiên, do nhu cầu điện cho sản xuất trong những năm qua luôn tăng cao nên từ năm 2007, điện cho sản xuất đã chiếm tỷ lệ ngày càng cao (trên 50% tổng sản lượng điện), nên giờ cao điểm của hệ thống điện đã dịch chuyển một phần sang buổi sáng từ khoảng 9h đến 12h.
Chính điều này đã làm cho công suất của cả hệ thống điện vào những giờ cao điểm buổi sáng đã cao hơn công suất vào các giờ cao điểm buổi tối.
“Mất” thêm tối đa 18% tiền điện
Lãnh đạo Cục Điều tiết điện lực thừa nhận, việp áp dụng giá điện giờ cao điểm vào buổi sáng "ở mức nào đó" sẽ ảnh hưởng tới các doanh nghiệp sản xuất. Tuy nhiên, qua tính toán sơ bộ, với việc áp dụng giá giờ cao điểm vào buổi sáng thì chi phí tiền điện tăng thêm của doanh nghiệp sẽ có sự khác nhau giữa các doanh nghiệp có các ca làm khác nhau.
Nếu doanh nghiệp sản xuất 3 ca, 7 ngày/ tuần thì chi phí tiền điện tăng thêm sẽ vào khoảng 1%, qua đó đẩy giá thành sản phẩm lên khoảng 0,1 – 0,2%. Nếu doanh nghiệp sản xuất 2 ca, 6 ngày/tuần thì chi phí tiền điện sẽ tăng thêm khoảng 4,6%, qua đó đẩy giá thành sản phẩm lên từ 0,45 – 0,9%.
Còn nếu doanh nghiệp chỉ sản xuất một ca mở rộng, 6 ngày/tuần thì chi phí tiền điện tăng thêm có thể lên tới 18%, qua đó đẩy giá thành sản phẩm lên khoảng 1,8 – 3,6%.
Tuy nhiên theo ông Thắng, nếu doanh nghiệp áp dụng các biện pháp giảm những phụ tải không thiết yếu vào giờ cao điểm hoặc dịch chuyển giờ làm để tránh giờ cao điểm vào buổi sáng thì chi phí tiền điện tăng thêm sẽ thấp hơn đáng kể so với mức tính toán trên.
Còn Thứ trưởng Bộ Công Thương Bùi Xuân Khu thì “an ủi: “Chúng tôi biết giữa lúc kinh tế đang khó khăn, việc tính giá điện theo giờ cao điểm sáng có thế khiến nhiều doanh nghiệp khó khăn hơn, nhưng nếu nhóm sản phẩm nào quá sức chịu đựng thì sẽ kiến nghị lên Thủ tướng xin có giải pháp tháo gỡ khó khăn".
Cái lý của EVN
Theo ông Đinh Quang Tri, Phó tổng giám đốc EVN, việc bắt buộc phải áp dụng giá điện giờ cao điểm vào buổi sáng là do đơn vị này đã phải “chịu thiệt” quá nhiều do chênh lệch công suất giữa giờ cao điểm – thấp điểm quá cao. Điều này cũng đồng nghĩa với việc có một số nhà máy được đầu tư nhưng chỉ vận hành vào giờ cao điểm với số giờ vận hành hằng năm thấp.
Bên cạnh đó, theo ông Tri, trong thời gian qua, khách hàng cũng đã được hưởng lợi nhiều do biểu giá điện bán lẻ cũ áp dụng cho năm 2007 và 2008 chưa quy định giá điện giờ cao điểm sáng thực nên giá bán lẻ điện thấp hơn giá thành sản xuất kinh doanh điện của các giờ cao điểm.
Do đó, theo ông Tri, việc tính giá giờ cao điểm vào buổi sáng là bất khả kháng. "Do đây là lần đầu tiên chúng ta áp dụng nên cũng không thể tránh khỏi những phản ứng của doanh nghiệp và dư luận. Song nếu không thực hiện thì sẽ gây thiệt hại cho EVN, đồng thời về lâu dài sẽ ảnh hưởng đến an ninh cung cấp điện của cả hệ thống và thậm chí là cả khách hàng", ông nói.
Nguon : Vnecomy.com.vn